Skip to main content

187. Học rùng mình - Truyện cổ Grim

Xưa có người có hai con trai. Con trai lớn thông minh, khôn ngoan, gặp khó khăn đến đâu cũng biết đường xoay xở. Còn em thì ngu xuẩn, không biết gì, học gì cũng chẳng vào. Ai cũng phải kêu:
"Thằng này chỉ ăn hại bố". Việc gì cũng đến người anh làm cả.
Nhưng anh lại có tính dát. Tối đến, bố sai đi lấy cái gì mà phải qua bãi tha ma hay nơi nào rùng rợn là anh ta từ chối:
"Con chịu thôi, bố ạ. Con run lắm, con không đi đâu".
Buổi tối, người nhà ngồi sưởi thường kể những chuyện sởn vẩy ốc, thỉnh thoảng có người nói:
"Rùng cả mình". Người em ngồi một xó chẳng hiểu gì nghĩ bụng:
- Họ cứ nói mãi:
"Rùng cả mình! Rùng cả mình!". Mình chẳng thấy rùng mình gì cả. Hẳn đó là một thuật mà mình không biết tí gì.
Một hôm, ông bố bảo người em:
- Này, bây giờ mày đã lớn, lại khỏe mạnh, con phải đi học lấy một nghề mà kiếm ăn. Trông anh con đấy, nó chịu khó như thế, mà con thì chả được việc gì.
Anh ta đáp:
- Thưa bố, con định học lấy một nghề. Con không biết rùng mình. Nếu bố bằng lòng thì con xin học nghề ấy.
Người anh nghe thấy em nói thế, cười và nghĩ thầm:
- Trời ơi, thép xấu thì uốn sao thành được lưỡi câu.
Ông bố thở dài, nói:
- Chắc con sẽ học được rùng mình thôi, nhưng nghề ấy thì kiếm ăn làm sao được.
Sau đó ít lâu, một hôm, người coi nhà thờ đến chơi nhà. Ông bố kể cho khách nghe nỗi khổ tâm của mình vì con út ngu xuẩn, không biết làm gì, học gì cũng không vào. Ông nói:
- Đấy, ông xem, tôi hỏi nó muốn học nghề gì kiếm ăn, thì nó bảo muốn học rùng mình.
Ông khách đáp:
- Nếu chỉ học có thế thôi, thì tôi xin dạy cho nó ngay. Ông cho nó lại đằng tôi, tôi làm cho nó bớt ngu đi cũng chóng thôi.
Ông bố những mong cho con hết ngớ ngẩn, đồng ý ngay.
Thế là chú ngốc đến nhà thờ làm công việc kéo chuông. Vài hôm sau, vào khoảng nửa đêm, thầy đánh thức tớ dậy sai lên gác kéo chuông. Ông nghĩ bụng:
"Mày sắp học được rùng mình đến nơi đây". Ông lẻn lên gác chuông trước. Khi anh ngốc trèo lên đến nơi, quay lại sắp cầm dây chuông, thì thấy một cái bóng trắng trên cầu thang, gần chỗ treo chuông. Anh ta quát lên:
- Ai đó?
Nhưng cái bóng cứ đứng im, không đáp mà cũng không nhúc nhíc. Anh ta lại quát:
- Muốn sống nói mau, không thì bước ngay! Đêm khuya, có việc gì mà đến đây?
Nhưng người coi nhà thờ vẫn không động đậy để anh ngốc tưởng là ma.
Anh ngốc lại thét lên:
- Mày đến đây làm gì? Nếu mày là người ngay thì nói lên, nhược bằng không thì tao quẳng xuống chân cầu thang bây giờ.
Người coi nhà thờ nghĩ bụng:
"Nó chẳng dám đâu", nên cứ đứng im. Hỏi đến lần thứ ba cũng không thấy trả lời, anh ngốc lấy đà, du con ma xuống chân cầu thang. Ma lăn qua mười bậc, rồi nằm sóng sượt ở một xó. Anh ngốc kéo chuông xong, lẳng lặng đi xuống nằm ngủ kỹ.
Vợ người coi nhà thờ chờ mãi không thấy chồng về, đâm lo, đi đánh thức anh ngốc dậy hỏi:
- Mày có biết ông nhà ở đâu không? Ông lên gác chuông trước mày đấy mà! Anh ta đáp:
- Thưa bà không ạ. Nhưng ở gần chỗ gác chuông thấp thoáng có bóng người, con hỏi mãi không nói, đuổi cũng không đi, con cho là ăn trộm, liền đẩy xuống chân cầu thang. Bà thử lên xem có phải ông nhà không. Nếu phải thì con thật ân hận.
Vợ vội lên thì thấy chồng gẫy chân nằm ở xó cầu thang rên rỉ.
Bà cõng chồng xuống, rồi đến nhà bố chú ngốc, làm om lên:
- Con ông gây tai vạ, nó đẩy ông nhà tôi xuống chân cầu thang, làm gãy mất một chân. Xin ông rước đồ ăn hại ấy ra khỏi nhà tôi đi.
Ông bố choáng người chạy bổ đến, mắng con một trận rồi bảo:
- Sao mày lại nghịch quái ác thế? Qui? ám mày hay sao?
Con đáp:
- Thưa bố, bố hãy nghe con. Quả thật con oan, giữa đêm mà ông ấy đứng đó như tính chuyện gì đen tối, con không biết là ai. Con đã bảo ông ấy ba lần là hãy lên tiếng nếu không thì đi đi cơ mà.
Ông bố đáp:
- Trời ơi, mày chỉ làm khổ tao. Bước đi cho khuất mắt tao, tao không muốn thấy mặt mày nữa.
Con nói:
- Con xin vâng lời bố. Nhưng bố hãy để sáng trời đã. Con sẽ đi học thuật rùng mình để kiếm ăn.
Bố nói:
- Mày muốn học nghề gì thì mặc xác mày. Đây tao cho mày năm mươi đồng tiền mà đi chu du thiên hạ, nhưng chớ có cho ai biết là quê mày ở đâu và tên bố mày là gì, mà nhọ mặt tao.
Con nói:
- Thưa bố, bố muốn sao, con xin làm vậy. Nếu chỉ có thế thì cũng dễ nhớ thôi.
Anh ta bỏ vào túi năm mươi đồng tiền, rồi sáng sớm ra đường cái đi, lẩm bẩm luôn mồm:
"Ước gì ta biết được rùng mình, ước gì ta học được rùng mình....".
Một người đánh xe đi qua nghe thấy, liền hỏi:
- Tên anh là gì?
- Tôi không biết.
Người đánh xe lại hỏi:
- Anh ở đâu đến?
- Tôi không biết.
- Cha anh là ai?
- Tôi không thể nói được.
- Anh cứ luôn mồm lẩm bẩm cái gì thế?
- Ấy, tôi muốn học rùng mình mà chẳng ai dạy cho.
- Thôi đừng nói lẩn thẩn mãi, đi theo tôi, tôi tìm chỗ cho mà ngủ.
Hai người cùng đi, đến tối thì tới một quán trọ, định ngủ lại đó.
Vào hàng, anh ta lại nói bô bô lên:
- Ước gì tôi biết được rùng mình, ước gì tôi học được rùng mình.
Chủ quán nghe nói bật cười bảo:
- Mày thèm khát cái đó thì đến đây vừa đúng lúc đấy.
Vợ chủ quán ngắt lời chồng:
- Chà, mặc người ta. Lắm cu cậu ngổ ngáo đã toi mạng. Nếu đôi mắt xinh đẹp kia mà không còn được nhìn ánh sáng nữa thì thật đáng tiếc.
Anh ta nói:
- Tôi đã cất công ra đi là để cốt học môn ấy, thì dù khó đến đâu tôi cũng chẳng quản.
Anh ta quấy rầy mãi, ông chủ quán phải kể cho nghe rằng ở gần đây có một lâu đài có ma, chỉ ngủ đấy ba đêm liền khắc biết thế nào là rùng mình. Vua đã hứa ai cả gan làm việc ấy, sẽ gả công chúa cho. Trong lâu đài lại có cả vàng bạc châu báu do mà qui? giữ , ai lấy được tha hồ mà giàu. Đã có nhiều người vào, nhưng không thấy một ai trở ra.
Sáng hôm sau, anh đến yết kiến vua, tâu:
"Nếu bệ hạ cho phép, tôi xin ngủ ba đêm ở lâu đài có ma". Vua ngắm anh ta hồi lâu, thấy anh ta có duyên, bèn bảo:
- Ta cho phép nhà ngươi mang theo vào lâu đài ba đồ vật chứ không được mang sinh vật.
Anh nói:
- Tôi xin cái gì để đốt lửa sưởi, một bàn thợ tiện và một ghế thợ chạm có dao.
Ban ngày, vua sai người mang những thứ đó đến lâu đài. Chập tối thì anh đến, đốt một đống lửa to trong một gian phòng, đặt dao cạnh ghế thợ chạm, và ngồi bên bàn thợ tiện. Anh nói:
- Ước gì ta biết rùng mình! Nhưng ở đây rồi cũng đến toi công thôi.
Nửa đêm, anh định thổi cho lửa bùng lên, chợt thấy tiếng kêu ở góc buồng:
"Meo! Meo! Bọn mình rét đến buốt xương".
Anh nói:
- Đồ chúng bay ngốc quá! Sao lại kêu như thế? Có rét thì lại đây mà sưởi.
Anh vừa dứt lời thì có hai con mèo to tướng nhảy vọt đến ngồi chồm chỗm hai bên anh, quắc mắt bừng như lửa nhìn anh một cách dữ tợn. Lát sau, chúng sưởi đã ấm người, bảo anh:
- Mày có muốn chơi bài không?
Anh đáp:
- Có chứ. Nhưng các cậu hãy cho tớ xem chân đã. Hai con mèo giơ móng ra.
Anh nói:
- Ôi chao, móng các cậu dài quá. Hẵng gượm, để tớ cắt bớt đi cái đã.
Thế là anh tóm cổ chúng, đặt chúng lên ghế thợ chạm và cho chân chúng vào kẹp, rồi nói:
- Chân các cậu làm tớ mất cả hứng chơi bài với các cậu.
Anh giết chúng, rồi quẳng xác qua cửa sổ xuống nước. Anh vừa giết chúng xong, sắp quay về ngồi bên lửa, thì thấy rất nhiều mèo đen, chó mực đeo xích sắt nung đỏ, từ bốn bề xông đến, mỗi lúc một đông, anh không biết đứng vào chỗ nào nữa. Chúng cất tiếng kêu ghê gớm, chực dập đống lửa cho tắt. Anh để mặc chúng làm ồn một lúc. Nhưng khi anh thấy chúng hăng quá, anh bèn lấy dao ra, xông vào quát lên:
"Đồ súc sinh cút ngay!". Một số con chạy trốn, anh giết những con còn lại, quẳng xác qua cửa sổ. Rồi anh lại về chỗ đống lửa, thổi lên để sưởi. Lát sau, anh buồn ngủ díp mắt lại. Anh nhìn quanh thì thấy ở góc phòng có một cái giường to. Anh nói:
"May quá", rồi lên giường nằm.
Anh vừa nhắm mắt thì thấy giường rung chuyển chạy khắp lâu đài.
Anh nói:
- Được lắm, cứ việc mà tế lên nữa đi.
Giường chạy nhanh như xe tứ mã nhảy qua ngưỡng cửa cầu thang và xông vào các phòng. Bỗng giường vấp, làm đổ lổng chổng mọi thứ lên người anh. Anh gỡ mình ra, quẳng cả chăn gối, nói:
"Bây giờ đứa nào muốn nằm giường thì đi mà nằm!", rồi lại bên đống lửa ngủ đến sáng.
Sớm hôm sau, vua đến lâu đài, thấy anh nằm dài dưới đất ngỡ là anh đã bị ma giết.
Vua than:
- Anh chàng xinh trai này chết thật uổng quá.
Anh nghe tiếng nhổm dậy, nói:
- Tâu bệ hạ, chưa đến nỗi thế ạ.
Vua ngạc nhiên đên vui mừng, hỏi anh về chuyện xảy ra đêm qua.
Anh đáp:
- Tâu bệ hạ rất bình yên. Thế là được một đêm, còn hai đêm nữa rồi cũng đến thế thôi ạ.
Khi anh về quán trọ, chủ quán trố mắt ra nhìn, nói:
- Tôi không ngờ anh còn sống. Thế anh đã học được rùng mình chưa?
Anh đáp:
- Khổ lắm, chỉ mất công toi. Giá ai dạy cho tôi thì hay quá.
Tối đến, anh lại đên tòa lâu đài cổ để ngủ đêm thứ hai. Anh đến ngồi bên lửa rồi lại nói lải nhải:
"Ước gì ta biết rùng mình!".
Nửa đêm, anh thấy tiếng động, trước còn khe khẽ, rồi to dần, sau rõ hẳn. Im một lát, sau có tiếng thét lớn, một nửa thân người rơi từ ống khói lò sưởi xuống trước mặt anh. Anh kêu lên:
- Còn nửa nữa đâu?
Thế là có tiếng ầm ầm, rồi nửa nữa hiện ra, đồng thời có những tiếng hú và tiếng rên. Anh nói:
- Chờ một tí, rồi tao thổi lửa cho mà sưởi.
Sau khi đã nhóm lửa, anh ngoảnh mặt lại thì thấy hai nửa người ban nãy đã liền lại với nhau thành một người ghê gớm ngồi vào chỗ của anh. Anh nói:
- Không phải là chuyện thách thức nhau đâu, ghế này là ghế của tao chứ.
Người ấy định cứ ngồi lì ở đấy, nhưng anh hẩy mạnh nó ra, chiếm lại chỗ cũ. Rồi có nhiều người khác cứ lần lượt rơi từ ống khói lò sưởi xuống. Chúng mang đến chín xương ống chân và hai đầu lâu để chơi ki với nhau. Anh cũng muốn chơi, liền bảo:
- Này các cậu cho tớ chơi với nhé.
- Được thôi nhưng phải có tiền.
Anh đáp:
- Tiền thì có đủ, nhưng những hòn lăn của các cậu không được tròn lắm.
Rồi anh để mấy cái đầu lâu lên bàn tiện mà tiện lại cho thật tròn. Anh nói:
- Như thế này nó lăn dễ hơn. Bây giờ ta tha hồ mà chơi.
Anh chơi và thua mất ít tiền. Khi đồng hồ đánh mười hai tiếng, tất cả bọn người kia biến mất. Anh nằm lăn ra đất, ngủ yên đên sáng.
Sớm hôm sau, vua lại đến hỏi thăm việc đã xảy ra đêm hôm trước. Anh nói:
- Tâu bệ hạ, tôi đã đánh ki và thua mất ít tiền.
Vua hỏi:
- Nhà ngươi có thấy rùng mình không?
Anh đáp:
- Thưa không ạ. Tôi đánh vui lắm. Tôi chỉ ước gì biết thế nào là rùng mình.
Đêm thứ ba, anh lại ngồi ở ghế dài mà phàn nàn:
"Ta muốn biết rùng mình mà chẳng được".
Đến khuya, sáu người khổng lồ khênh một cỗ quan tài hiện ra.
Anh liền nói:
- Hừ! Chắc đây là em họ mình mới chết được vài hôm nay.
Anh ta đưa ngón tay ra hiệu gọi:
"Lại đây, chú em ơi!".
Sau khi sáu người kia đặt quan tài xuống, anh tới giở tấm ván thiên lên xem thì thấy xác một người. Anh sờ vào mặt người chết thấy lạnh giá. Anh nói:
"Để tôi sưởi cho chú một tí". Anh về chỗ đống lửa, hơ nóng tay, rồi ấp vào mặt người chết. Nhưng người chết vẫn lạnh như đồng. Anh khiêng người chết ra, đem lại gần đống lửa, cho ngồi vào lòng, xát hai cánh tay vào cho máu lại tuần hoàn.
Thấy thế cũng không ăn thua, anh nghĩ rằng hai người nằm chung một giường chắc ấm hơn. Anh bèn đặt xác chết lên giường, lấy chăn phủ lên, rồi nằm kề bên cạnh. Lát sau, người chết đã ấm, bắt đầu cựa quậy. Anh liền nói:
- Thấy chưa, chú nó ơi. nếu anh không sưởi ấm cho chú thì chú đã đi đứt rồi nhé.
Người chết liền quát lên:
- Tao sắp bóp cổ mày đây.
Anh nói:
- Sao! Mày giả nghĩa tao như thế à? Tao lại bỏ mày vào săng ngay vậy.
Tức thì anh nhấc nó lên ném vào săng, đóng nắp lại. Thế là sáu người ban nãy lại đến khiêng cái săng đi ngay.
Anh nói:
- Nhất định ở đây ta không thể học được rùng mình.
Vừa lúc đó, một lão khổng lồ tóc bạc râu dài có vẻ hung dưo bước vào.
Lão nói:
- Thằng nhãi kia, mày sắp được biết thế nào là rùng mình, vì mày sắp chết! Anh đáp:
- Đâu lại chóng thế? Còn xem tao có muốn chết không mới được chứ.
Con quái đáp:
- Mày có bằng lòng hay không, tao cũng sắp bắt mày đây.
Anh nói:
- Khoan, khoan, mày đừng có làm bộ. Tao cũng khỏe bằng mày, có khi còn khỏe hơn kia đấy.
Con quái nói:
- Ừ để xem sao – Nếu mày khỏe hơn tao, tao sẽ để cho mày yên.
Nào, ta đấy sức đi.
Nó dẫn anh qua những lối tối tăm đến một lò rèn, lấy một chiếc búa, đập lên đe, đe thụt hẳn xuống đất.
Anh nói:
- Tao đập còn khỏe hơn mày.
Anh đi đến một cái đe khác. Con quái đứng sát ngay bên cạnh đe để biết sức đập mạnh đến đâu. Bộ râu bạc hắn thõng xuống lòng thòng. Anh vớ lấy búa, nện mạnh xuống đe, lôi cả râu bạc của nó vào đó. Anh nói:
- Bây giờ tao tóm được mày rồi, thế là mày sắp phải chết.
Tức thì anh cầm thanh sắt đánh cho nó một chập. Nó rên rỉ van lạy anh tha cho nó, nó sẽ cho nhiều của. Anh nhấc búa lên để nó ra. Nó dẫn anh về lâu đài, đưa anh vào một cái hầm, trỏ cho anh ba tráp đầy vàng, và bảo:
Một tráp dành cho kẻ nghèo, tráp thứ hai cho vua, tráp thứ ba cho anh.
Bây giờ, đồng hồ vừa đánh nửa đêm. Lão kia biến mất. Còn anh ở lại trong đêm tối. Anh nghĩ bụng:
"Ta phải lần đường ra". Sờ soạng hồi lâu lại thấy buồng cũ anh liền nằm ngủ bên đống lửa.
Sớm hôm sau, vua lại đến hỏi anh:
Chắc ngươi đã rùng mình được rồi chứ?
Anh đáp:
Như vậy thực là hay, nhưng tôi vẫn chưa biết thế nào là rùng mình.
Người ta lấy ở hầm lên chỗ vàng mà con quái vật biếu anh. Lễ cưới được cử hành. Tuy vui duyên mới, vị phò mã vẫn cứ nói lải nhải:
"Ước gì ta biết rùng mình!".
Công chúa thấy chồng nói dai, đâm ra bực mình. Thị tỳ tâu với công chúa:
- Con sẽ xin giúp một tay làm cho phò mã rùng mình.
Ả ta ra con suối chảy qua vườn thượng uyển lấy một thùng nước đầy cá bống mang về cung. Đêm ấy, phò mã đang ngủ say, công chúa khẽ kéo chăn ra, đổ thùng nước lạnh đầy cá lên người chồng. Cá quẫy khắp lên người, phò mã choàng dậy , reo lên:
- Mình ơi, tôi rùng mình quá thể. Thế là tôi đã biết thế nào là rùng mình rồi.
Câu chuyện ca ngợi lòng dũng cảm và gan dạ của con người. 

Book Introductions by the Owner of Vietnamese Fairy Tales:

  1. Complete Collection of Vietnamese Fairy Tales - A Treasury of Legends and Folklore
    Discover over 240 enchanting Vietnamese fairy tales, translated into English and beautifully illustrated. This collection is a treasure trove of legends and folklore that reflect Vietnam's rich cultural heritage. Available as an ebook on Kobo Books and Apple Books.

  2. Vietnamese Fairy Tales - Stories in English and Vietnamese
    This bilingual collection features 162 Vietnamese fairy tales in both English and Vietnamese, with stunning illustrations. Ideal for language learners and cultural enthusiasts. Available as an ebook on Kobo Books and Apple Books.

  3. The Treasury of Fables
    An enchanting collection of timeless fables, written in English and beautifully illustrated. Perfect for all ages, these stories offer valuable moral lessons. Available as an ebook on Kobo Books and Apple Books.

Thank you for your support, and happy reading!

Comments

BÀI ĐĂNG ĐƯỢC XEM NHIỀU

Truyện 166. Vợ chàng Trương

Ngày xưa, ở làng Nam-xương có cô gái tên là Vũ Thị Thiết, người đã xinh đẹp lại thùy mị nết na. Nàng lấy chồng là Trương sinh vốn là người cùng làng. Trương sinh có tính cả ghen, hay để tâm xét nét vợ, nhưng vợ chàng thường giữ gìn khuôn phép nên không có chuyện gì xảy ra. Vợ chồng hương đượm lửa nồng chưa được bao lâu thì bỗng nghe tin chốn biên thùy có giặc, chồng vâng lệnh quan phải từ giã mẹ và vợ đi lính thú. Bấy giờ vợ đang có thai. Buổi chia tay thật là bịn rịn, mẹ chúc cho con chân cứng đá mềm, chồng khuyên vợ gắng phụng dưỡng mẹ già và nuôi con khôn lớn. Sau khi chồng trẩy được mươi ngày thì Vũ Thị Thiết sinh được một đứa con trai, đặt tên là thằng Đản. Thằng bé sởn sơ mạnh khỏe, còn bà nội của nó vì nhớ con sinh ra đau ốm. Vợ chàng Trương hết lòng mời thầy chạy thuốc, nhưng bệnh của mẹ chồng mỗi ngày một nặng, chẳng bao lâu thì mất. Nhờ có bà con xóm giềng, mọi việc tống táng đều lo liệu chu toàn. Đã mấy thu qua không thấy chồng...

List of Vietnamese fairy tales

Vietnamese  fairy tales includes many stories as Tam and Cam; So Dua; Hundred – knot- bamboo tree... which were spread in folk. Each stories has  its own meaning. I think I can not translate exactly each word into english but I will try my best to convey its meaning to you. Hope you like them!

Thuong Luong

Thuong Luong was common name of creatures which are in people’s imagines. They are distant relatives of dragons. While dragons are worshiped as gods, the gods ruled rivers and sea and the gods can make rains, Thuong Luong is not respected as dragons that the creatures are too amorous, combative, wild, and have bad behaviors. All most of them like to harm people.

God of blacksmiths and blacksmith

Khong Lo, the god of blacksmiths, was the god who had taught people casting and also the go who governed blacksmiths. Khong Lo early realized that not all blacksmiths were good guy so he used to appear on ground and challenge blacksmiths. A street blacksmith who used to shoulder tools wander on street and helped people remold metal things. “Mold pots, mold jars, mold tray, remold metal things”, he cried to let others know he was a blacksmith. The blacksmith was great so he could mold and remold all things people needed in short time. In the time he worked he stayed in house of people who needed him to mold things. When things were molded, he got his money and set off. That was his work. One day, the blacksmith made his way to a fair. He went cross a forest and met a boy who was shouldering tools as he was. As he saw the blacksmith, the stood and bowed his head politely. “Do you see anybody go cross the direction you have passed, sir?”, said the boy. “Who do you find?”...

Tam and Cam

Once upon a time, there had a little girl named Tam. Her mother died early so her father decided to remarry on purpose the stepmother would take care of his little daughter. The stepmother gave birth to a girl, named Cam after that. Then, her father died after few years. Tam had to live with her stepmother and her sister, Cam. Since the time, she was forced to work hard, all housework, while Cam had to do nothing. One day, the stepmother gave Tam and Cam each one a corf to caught fish. She promised that who caught full her corf would receive a piece of red silk. Tam and Cam went to field together. She was hard to catch fish while Cam only wondered around till afternoon and had nothing in her coft. Cam pointed at Tam’s coft and realised it is full, thinking seconds, she said gently: “sister Tam, your head is mud, you should wash it or mother will punish you” Belive Cam, Tam went to river nearly. She left her corf on the shore,  waded into water to wash. Cam, meanwhile, stayed on t...

Thi Kinh Bodhisattva

A  person had been born times, lived other lives. Each time being born, the person was always a monk or a nut, lived with strong religious belief. She or he had passed nine lives but still   didn’t reach Nirvana. At the tenth, the person was reborn in the form of a girl. She was daughter of a normal family who lived in Cao Ly and her name was Thi Kinh. Thi Kinh was a calm, kind-hearted girl. She was the person who loved her mother and father, using to help them homework. When she grew up, he parent let her married with a student whose name’s Thien Si. Thien Si was born in normal family, not richer than her family but he was very hard in studying. Therefore, Thi Kinh had nothing more pleased than undertaking all homework for her husband to have time to study. One normal night, Thien Si sat on floor reading book while his wife, Thi Kinh, was staying by sewing. Front their face was only an oil lamp. Later, Thien Si felt tired, he laid down his head was on his wif...

202. Ba anh em

Một người có ba con trai, cả cơ nghiệp có một cái nhà. Người con nào cũng muốn sau này, khi bố mất, nhà sẽ về mình. Ông bố thì con nào cũng quí, thành ra rất phân vân, không biết tính sao cho các con vừa lòng. Bán nhà đi thì có tiền chia cho chúng, nhưng là của hương hỏa nên ông không muốn bán. Sau ông nghĩ được một kế, bảo các con: - Chúng mày hãy đi chu du thiên hạ, thử gan thử sức một phen. Mỗi đứa học lấy một nghề. Đứa nào giỏi nhất, bố cho cái nhà. Ba người con lấy làm thích lắm. Người con cả muốn trở thành thợ đóng móng ngựa, người thứ hai muốn làm thợ cạo, còn người em út muốn làm thầy dạy võ Ba anh em hẹn nhau ngay về, rồi chia tay ra đi. Cả ba người đều gặp được thầy giỏi truyền cho biết hết bí quyết nhà nghề. Người đóng móng ngựa được làm việc cho nhà vua và nghĩ bụng: "Phen này, chắc nhà không thoát khỏi tay mình". Người thợ cạo được sửa tóc cho những nhà quyền quí nên chắc mẩm là được nhà. Anh học võ bị đấm nhiều miếng nhưng vẫn cắn răng chịu, nghĩ bụng: ...

Wife of Truong

Nam  Xuong was place Thi Thiet Vu was given birth. She was a beautiful woman, kind and knowledgeable. She got married with a person who lived in the same village, Truong. Truong was a student he often doubted his wife's fidelity. One other side, Thi Thiet knew her husband so she always behaved cleverly to keep family happiness. Therefore, their family was always in peace. But it’s not long the time of happiness was interrupted enemies invaded their country. Truong was summoned and became a soldier to fight against invaders. The day he left seemed sadder when her wife was pregnant. The separation was wetted by tears of his wife and his mother. They gave him wishes, asked him to take care and hoped he could come back early. Thi Thiet gave birth to a son after ten days her husband left. She named him Dan. Dan grew healthily each day while his grandma, mother of Truong, turned weaker and weaker the remembering of her son made her get in illness. Though Thi Thiet had tried her b...

Wishing pearl

De was a young boy. His parent was servants of a landlord. Every morning, De led landlord’s cattle to meadow and brought them back at nightfall. De used to be excited in playing with his fellows and when he was in his game he didn’t care anything. Many times the cattle he herded ate rice on field and the owners used to beat him pained but he still left cattle and joined in his fellows. One normal day, he and his fellows had a swimming competition. An award was given to the winner that he couldn’t refuse. Therefore, he participated in the competition and left his cattle on a wild hill. They swam and dived in water until noon and when they walked on ground, a cow had disappeared. The cow belonged to no one but his master. Children separated to find the cow but the cow seemed to vanish they couldn’t find it. Sun was going to down, children made their ways to home they left De staying at there. Day stayed at there alone crying. After that, he fell in sleep. Latter, he was woken up b...