Skip to main content

139. Hòa Thượng Nhất Phong



Cuối đời Ðường đầu nhà Tống, chuyện Quan Âm Bồ Tát giúp đỡ người hiền lương thoát khỏi bàn tay gian ác hãm hại được lưu truyền rộng rãi trong khắp khu vực thành Cô Tô.


Người hiền lương nói trên tên là Yêu Nhất Phong, chủ một cửa tiệm tạp hóa. Ðó là một người thành thật, lương thiện, tốt bụng, đối với người khác thì vui vẻ tử tế, không bao giờ so bì tị nạnh, không tranh dành hơn thua, vì thế người ta thường gọi ông là "người hiền".


Ông thâm tín Phật giáo, trong nhà hay ngoài tiệm đều có thờ Quan Âm Bồ Tát, mỗi ngày sớm chiều thành tâm lễ bái, rảnh thì ngồi trước bàn thờ tụng kinh niệm Phật, không ngày nào xao lãng.


Tuy Yêu Nhất Phong là người tốt nhưng có một bà vợ đẹp thì lại rất dâm đãng. Bà thừa lúc chồng phải đi xa buôn hàng để thông gian với một tên vô lại ở ngay bên cạnh nhà tên là Khang Thất. Những chuyện tình cảm lăng nhăng như vậy thường không qua mắt ai, vì thế người ngoài ai cũng biết, chỉ trừ có Yêu Nhất Phong thật thà khờ khạo là trước sau không hề hay biết gì cả.


Mọi người ai cũng than thở và bất bình giùm ông, họ nói rằng "ai cũng nói là thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, mà sao cái người tốt bụng này, đã không có quả báo thiện thì thôi, đằng này còn phải chịu ác báo ? Huống chi ông lại là người tin Phật, không lẽ Bồ Tát không linh ứng hay sao ?"


Không phải là Bồ Tát không linh ứng, vì đúng lúc đó Quan Âm vừa đến Cô Tô. Không những Ngài biết hết chuyện nhà của Yêu Nhất Phong, mà còn biết sau này Yêu Nhất Phong còn phải chịu nhiều tai ách.


Hôm ấy, Yêu Nhất Phong lại đi ra khỏi tỉnh để buôn hàng, ban đêm bỗng nhiên nằm mộng thấy Quan Âm Bồ Tát xuất hiện trong nhà của mình. Tay Ngài cầm ngọc Như Ý, trên đỉnh đầu lại có một con rồng xanh. Ngài đặt viên ngọc Như Ý lên đỉnh đầu Yêu Nhất Phong và nói :


- Yêu Nhất Phong, nghe ta nói đây, không lâu nữa ông sẽ gặp đại họa. Ta thấy ông là người chân thành tin Phật, không nhẫn tâm để cho ông bị tai nạn nên tới đây cứu ông. Ta dạy cho ông bốn câu kệ, xin ông hãy nhớ cho kỹ :


Gặp cầu chớ dừng tàu


Gặp dầu trét lên đầu


Ðấu thóc ba thăng gạo


Ruồi xanh bu bút đầu.


Bằng bất cứ giá nào ông cũng không được quên bốn câu kệ này.


Quan Âm nói xong liền biến mất. Yêu Nhất Phong giật mình thức giấc, những gì xảy ra trong mộng còn rành rành trước mắt. Nghĩ tới sự Bồ Tát ứng mộng để cứu mình, Nhất Phong vừa mừng rỡ vừa kinh sợ, biết rằng điều Bồ Tát nói tất nhiên không thể sai, ông vội quỳ xuống đất nhìn lên không trung khấu đầu lễ lạy. Rồi tuân lời dặn dò của Bồ Tát, ông nhẩm đi nhẩm lại bốn câu kệ cho tới thuộc lòng như cháo, ghi khắc trong đầu không làm sao quên được.


Hôm sau ông đáp tàu ra đi, mới khởi hành thì sóng yên gió thuận, tiết trời quang đãng. Nhưng đến khoảng chừng nửa ngày đường thì đột nhiên mây đen giăng mịt, sấm chớp ngang trời, mưa như trút nước. Cũng vừa đúng lúc ấy, tàu hướng tới một cái cầu trước mặt. Người phu lái tàu sợ ướt, nghĩ rằng gặp cái cầu này thật đúng lúc, tốt nhất là dừng tàu ở dưới cầu để trốn mưa nên tính gác mái chèo đậu lại ngay ở đấy. Còn Nhất Phong thì lúc nào cũng nghĩ tới bốn câu kệ của Bồ Tát dạy, tuy không mấy gì hiểu nghĩa, nay thấy tàu muốn dừng lại dưới một cái cầu thì câu "gặp cầu chớ dừng tàu" chợt loé lên trong óc khiến ông lập tức nhận ra, vội lớn tiếng la người phu lái tàu :


- Không thể dừng lại ở đây, mau chèo tiếp !


Tuy ông không hiểu rõ tại sau gặp cầu lại không được dừng tàu nhưng ông nghĩ cứ làm đúng theo lời Bồ Tát dạy thì không thể sai lầm. Ông không cần biết người phu lái chịu hay không chịu, cứ bắt buộc ông ta phải chèo tiếp để ra khỏi gầm cầu.


Khi tàu rời khỏi gầm cầu không tới một tầm tên bắn thì một tiếng "rầm" long trời lở đất đập vào tai họ chát chúa, những ngọn sóng tung toé lên tới trời, người phu lái tàu cùng Yêu Nhất Phong quay đầu lại nhìn thì thấy cái cầu mình mới đi ngang đã sập xuống quá nửa. Nếu tàu ngừng lại tránh mưa ở dưới ấy thì có lẽ giờ này đã bị đập nát.


Người phu tàu líu lưỡi lại vì sợ hãi :


- Ghê quá ! Ghê quá ! Nếu không có ông hối phải chèo tiếp thì giờ này chết toi rồi ! Ông Phong ơi, ông có phải là thần tiên không mà biết trước vậy ?


Yêu Nhất Phong bèn kể lại chuyện Bồ Tát ứng mộng cho phu lái tàu biết. Người này cũng cảm tạ ơn đức của Bồ Tát, nên từ đấy cũng trở thành một Phật tử thuần thành.


Yêu Nhất Phong đến thị trấn nọ, buôn xong hàng hóa rồi lên đường trở về. Mỗi lần đi, về như vậy phải tính vắng nhà hai tháng trời. Trong suốt hai tháng trời ấy, vợ ông cùng tên du đãng Khang Thất đã sống những ngày trăng hoa nóng bỏng. Khi Nhất Phong về nhà thì trời đã hoàng hôn, nhờ có Bồ Tát báo mộng sập cầu cứu ông nên việc đầu tiên sau khi vào nhà là đến trước bàn thờ Quan Âm Bồ Tát chí thành đảnh lễ bái tạ.


Lễ xong đứng dậy, đột nhiên cây đèn lưu ly treo trên xà nhà bị đứt dây rơi xuống, ông bị dầu bắn lên khắp cả người, và vì bị dầu bắn lên người như thế nên ông lập tức nhớ đến câu kệ thứ hai "gặp dầu trét lên đầu", thế là còn bao nhiêu dầu trong đèn ông bèn đổ cả lên đầu lên tóc.


Lễ Phật xong, ông mới gặp vợ hỏi han việc nhà và sau khi ăn cơm, hai vợ chồng vào phòng thay quần áo đi ngủ.


Tên du đãng Khang Thất biết rằng Yêu Nhất Phong đã về rồi. Trong hai tháng vừa qua, hắn đã cùng người đàn bà kia mặn nồng trăng gió với nhau, một phút cũng không muốn rời. Nay Yêu Nhất Phong trở lại rồi thì đêm nay hắn không thể qua nhà người đàn bà để cùng nhau mây mưa, về sau cũng sẽ khó mà tiếp tục dan díu với nhau lâu dài. Ðêm hôm ấy hắn không ngủ được, cứ trăn qua trở lại, lửa ghen thiêu đốt tâm cang, càng nghĩ càng căm giận, hận là không thể tức khắc xông qua nhà bên cạnh bắt con dâm phụ ấy về với mình. Ý nghĩ giết người manh nha trong đầu từ đấy, hắn nghĩ rằng giải pháp gọn nhất là giết quách Yêu Nhất Phong đi, dấu thi thể để phi tang rồi sau đó mới có thể cùng tình phụ ăn ở với nhau lâu dài được. Nghĩ xong là làm, hắn xuống bếp lấy một con dao nhọn và bén, trèo tường qua nhà hàng xóm, lẻn vào phòng ngủ của Yêu Nhất Phong. Trong phòng tối đen như mực, Khang Thất cầm dao mò mẫm đến trước giường, nhưng hắn không thể phân biệt ai là Yêu Nhất Phong ai là người đàn bà. Hắn lại nghĩ, trong đêm tối không nên giết lầm người, đàn bà vốn thường hay xoa dầu thơm lên đầu nên phân biệt hai người có lẽ cũng dễ thôi. Hắn đưa mũi đánh hơi, thấy rằng cái người ngủ phía ngoài có mùi dầu sực nức, thì chắc chắn đây là người đàn bà rồi, vậy người nằm trong ắt phải là Yêu Nhất Phong. Tức thời hắn vung dao lên chém mạnh xuống, chỉ nghe "phập !" một tiếng, đầu người dâm phụ bị chẻ làm hai mảnh. Yêu Nhất Phong nghe tiếng chém thì giật mình thức dậy, hô hoán lên rầm rĩ, khoác áo vào ngồi dậy đốt đèn. Tên sát nhân Khang Thất biết mình giết lầm người, vội vàng trèo cửa sổ chạy trốn mất.


Yêu Nhất Phong thấy đầu vợ bị bửa ra thành hai mảnh thì thương tâm quá khóc rống lên, tìm kiếm khắp nơi mà hung thủ thì đã biệt tăm biệt tích. Ông bèn sai người đi liền đêm ấy báo cho nhạc phụ biết tin dữ.


Khi nhạc phụ tới nhà Yêu Nhất Phong xem xét thì không cần biết trắng đen phải trái ra sao, nhất định buộc tội Yêu Nhất Phong giết vợ, lồng lộn tra vấn con rể :


- Cửa ngoài vẫn đóng, cửa nhà không mở, ngay trên giường mi xảy ra án mạng, không phải mi giết thì còn ai vào đây ?


Yêu Nhất Phong tình ngay lý gian, có miệng mà không cãi được.


Hôm sau người nhạc phụ ra nha môn trình cáo, vị quan huyện đến điều tra rồi cũng nghi rằng hung thủ chính là Yêu Nhất Phong.


Ðây là một vị quan huyện rất hà khắc, ưa dùng hình phạt tàn khốc để bắt tù nhân khai tội, nên cho tra tấn Yêu Nhất Phong trong lúc thẩm vấn. Yêu Nhất Phong là một thương nhân, một chủ tiệm, làm sao chịu nổi cuộc tra tấn đau đớn ấy, chỉ biết tự than rằng kiếp trước đã gây tội, vận mệnh đã an bài như thế rồi, thôi thì cứ nhận tội oan, dẫu có chết cũng còn đỡ khổ hơn là sống mà phải chịu đọa đày như vậy. Quyết định như thế rồi ông bèn nhận tội.


Quan huyện thấy Yêu Nhất Phong đã nhận tội rồi bèn một mặt cho giam ông vào ngục tối, một mặt chuẩn bị phát thảo tờ công văn để xử án tử hình. Ngờ đâu khi ông cầm bút lông lên vừa tính đặt xuống giấy thì đột nhiên có vài con ruồi xanh bay tới, vây chặt lấy đầu bút khiến cho ông không thể nào đặt bút xuống. Ông đưa tay xua ruồi, nhưng vừa tính hạ bút thì chúng lại bay tới bu lấy đầu bút, cứ thế nhiều lần nên tờ công văn không sao viết được. Vị quan huyện cảm thấy kỳ quái, bèn nghĩ rằng ruồi xanh bu vào đầu bút không cho ông viết công văn để xử tội, phải chăng có oan tình chi đây ? Ông bèn cho mời vị quan cố vấn tới thỉnh ý. Quan cố vấn nói :


- Ðể tôi vào ngục hỏi lại Yêu Nhất Phong rồi sau đó hãy tính.


Quan cố vấn vào ngục, thấy Yêu Nhất Phong ngồi bình tâm niệm Phật lại càng thấy quái lạ, bèn hỏi :


- Ông đã khai rồi, tội giết người đã định, niệm Phật có ích gì ?


Nhất Phong đáp :


- Tôi không chịu nổi tra khảo nên phải nhận tội chứ sự thật oan cho tôi lắm. Tôi không hề giết người, Bồ Tát nói sẽ cứu tôi nên tôi niệm Phật cầu Ngài đến cứu vì Bồ Tát tuyệt đối không bao giờ gạt người.


Tới đây ông kể lại chuyện được Bồ Tát báo mộng và đem bốn câu kệ lập lại cho quan cố vấn nghe. Quan cố vấn nghe rồi vô cùng kinh dị, nghĩ thầm :


- "Ruồi xanh bu bút đầu" phải chăng là ứng cho chuyện quan huyện mới gặp vừa rồi chăng ? Vậy thì câu thứ ba "đấu thóc ba thăng gạo" có nghĩa là gì ? Ông suy nghĩ, nghiền ngẫm, trở đi trở lại vấn đề trong đầu nhưng vẫn nghĩ không ra. Cuối cùng bỗng nhiên ông đại ngộ :


- Một đấu là mười thăng, nếu một đấu thóc mà chỉ cho có ba thăng gạo thì phải chăng còn lại bảy thăng cám ? Chữ cám (Khang), bỏ bộ mễ (gạo) ra còn lại họ Khang. Bảy là Thất, vậy phải chăng hung thủ tên là Khang Thất ?


Nghĩ thế xong ông bèn hỏi Yêu Nhất Phong :


- Ở chỗ ông ở có ai tên là Khang Thất, Khang Bảy gì không ? Ông có quen ai tên đó không ?


Yêu Nhất Phong đáp :


- Có, có người tên đó, mà tôi cũng biết ông ta nữa. Ðó là người hàng xóm bên tay trái của nhà tôi, đúng tên là Khang Thất.


Quan cố vấn gật đầu bỏ đi, đem hết câu chuyện trình lại cho quan huyện nghe. Hôm sau, tên gian phu Khang Thất bị bắt đem lên nha môn, và bị tra vấn ngay tại chỗ. Khang Thất bèn khai thật mọi sự, Yêu Nhất Phong được xử trắng án.


Qua tai nạn bất ngờ nói trên và tuy được xử trắng án, thoát được họa bị xử tử hình nhưng Yêu Nhất Phong cảm thấy thế sự biến đổi vô thường, chán nản cùng cực, bèn đem tài sản ra bố thí hết cho người nghèo và quyết định đến Hàng Châu, vào chùa Linh Ẩn xuất gia. Ông đi bộ suốt cả đoạn đường, một hôm đến Gia Hưng, nghỉ lại trong một lữ điếm. Trong đêm sâu ông mơ hồ nghe ai gọi tên mình, mở mắt ra nhìn thì thấy vợ mình cùng Khang Thất, hai người mỗi người ôm cái đầu lâu đẫm máu xông tới đòi mạng. Nhất Phong sợ quá run bần bật, vội vàng nhắm nghiền đôi mắt niệm thầm danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát, sau một lúc không nghe động tĩnh gì nữa, bèn mở mắt ra nhìn, không thấy hai con quỷ đâu mà lại thấy một vị Bồ Tát đứng trên một chiếc lá sen, bên cạnh có một cậu bé trai thân trần, đứng chắp tay hướng về Bồ Tát như thể đang lễ bái. Chỉ trong chớp mắt , cảnh ấy cũng biến mất luôn. Lúc ấy Nhất Phong mới biết là mình mới nằm mộng. Nhớ lại chuyện vừa qua, biết rằng Quan Âm Bồ Tát đã một lần nữa hiển linh để cứu mình, ông thấy mình quả thực có phúc nên càng quyết định xuất gia tu hành .


Hôm sau ông rời huyện Gia Hưng, tiếp tục nhắm hướng Hàng Châu mau lẹ tiến bước. Gần tới Hồ gia trang, thấy có một đám người đang đứng vây xung quanh một cánh đồng, chẳng biết xảy ra chuyện gì, ông bèn nhanh chân tiến đến gần xem.


Thì ra có một người nông phu họ Vương, trong lúc cuốc đất, cuốc phải một pho tượng Phật cao cỡ một xích rưỡi (1 xích 0,33 m). Pho tượng này làm bằng ngói lưu ly màu xanh ngọc bích, điêu khắc rất tinh vi đẹp mắt, mọi người tranh nhau nhìn ngắm nên mới tụ lại vây quanh đông đảo như vậy. Nhưng tượng Phật này là Phật nào ? Yêu Nhất Phong chen vào nhìn, nhìn kỹ càng rồi thì mới nhận ra rằng tuy tượng Phật có tướng người nam nhưng mắt mũi diện mục thì đích thị là Quan Âm Bồ Tát. Ông hân hoan thấy rằng giữa Bồ Tát và mình quả thật có duyên nên đã được gặp Ngài mấy lần, vì thế ông vui vẻ nói với mọi người rằng :


- Quý vị ở đây thật có phúc nên hôm nay được gặp Bồ Tát. Quý vị hãy mau thỉnh Bồ Tát về ngôi chùa nào trong thành mà cúng dường, Bồ Tát sẽ hộ trì cho quý vị được bình an và năm nào gặt hái cũng được mùa.


Người nông phu họ Vương hỏi :


- Ông nói đây là Bồ Tát, vậy chứ tôi hỏi ông, ông có biết đây là Bồ Tát nào không chứ chúng tôi nhìn mãi mà không biết.


Yêu Nhất Phong nói :


- Đây là Quan Thế Âm Bồ Tát.


Mọi người nghe thế nhao nhao lên cãi :


- Không phải, không phải, pháp tượng của Quan Âm Bồ Tát như thế nào chúng tôi đây ai cũng đã từng nhìn thấy, không phải là lối ăn mặc như thế này, là người nữ chứ không phải là người nam. Còn tượng này là tướng người nam, làm sao là Quan Âm Bồ Tát được ?


Nhất Phong nói :


- Sau khi đắc đạo rồi, vì muốn cứu độ người đời và đi khắp vũ trụ nên Bồ Tát tùy thời tùy nơi mà ứng hóa, có khi thân nam có khi thân nữ, có khi già có khi trẻ không nhất định, có khi lại còn ứng hóa đủ thứ thân để cảnh cáo thế gian. Sao quý vị lại còn nghi ngờ ?


Sau đó ông đem chuyện mình hai lần gặp Bồ Tát hiển linh kể cho mọi người nghe, lúc ấy mọi người mới chịu tin và đem pháp tượng Bồ Tát vào chùa thờ phụng. Vì tượng Bồ Tát này từ luống cày xuất hiện nên mọi người đặt tên là "Lủng Kiến Quan Âm" (Quan Âm thấy trong luống cày).


Yêu Nhất Phong đi suốt ngày lẫn đêm, cuối cùng cũng đến chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu. Có một vị thiền sư pháp hiệu là Nguyên Tịch, thấy ông chí thành muốn xuất gia nên thâu nhận ông làm đệ tử. Từ đó Nhất Phong xuống tóc xuất gia làm tăng, theo chúng mà tu hành, người ta gọi ông là Nhất Phong hòa thượng.


Nhất Phong mới xả bỏ phàm trần nên tuy có nhiều thiện căn, nhưng vì đã lăn lộn nhiều trong thế gian nên trong tâm hãy còn nhiều tạp niệm, lục căn chưa thanh tịnh, lúc mới học ngồi thiền ông không cách nào định tâm được. Thường thường hễ ngồi xuống lại thấy hồn ma Khang Thất cùng vợ mình bưng đầu lâu đẫm máu đến phá quấy. Buổi thiền tọa hôm ấy hai hồn ma lại về quấy nhiễu nhưng lần này hung tợn hơn, Khang Thất dẫn đầu một đoàn quỷ sứ không đầu ào ào ùa tới khiến Nhất Phong hồn phi phách tán, vội niệm thầm danh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát. Một lúc sau ông thấy một vị Bồ Tát xuất hiện trước mặt, vị Bồ Tát này có cái cổ màu xanh, một đầu mà ba khuôn mặt, mặt chính ở giữa là mặt từ bi của một vị Bồ Tát, mặt tay phải là mặt sư tử, mặt tay trái là mặt heo. Đầu Ngài đội mũ báu, trên mũ có hóa thân của Vô Lượng Thọ Phật. Ngài có tới 4 cánh tay, tay thứ nhất bên phải cầm tích trượng, tay thứ hai cầm hoa sen : tay thứ nhất bên trái cầm bánh xe, tay thứ hai cầm loa ốc. Ngài mặc áo bằng da cọp, tua ren là những con rắn đen, đứng trên một hoa sen tám lá, tay đeo vòng anh lạc, xung quanh có hào quang, trông rất là uy dũng. Vị Bồ Tát cổ xanh này tóm lấy những con quỷ không đầu mà ăn, chỉ trong thoáng chốc là ăn trọn hết bầy quỷ. Ăn xong, Ngài dùng tích trượng khõ Nhất Phong hoà thượng một cái, Nhất Phong chợt thấy tâm mình trở nên minh mẫn sáng suốt, từ đó trong tâm không còn cấu nhiễm, trần duyên cắt tuyệt.


Ngày hôm sau, Nhất Phong hòa thượng đem chuyện đêm qua trình lên Nguyên Tịch Thiền sư, Thiền sư nói :


- Đêm qua ông thấy Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát (Bồ Tát Quán Tự Tại cổ xanh), chính là Quan Âm Bồ Tát dưới hình tướng của Minh Vương, ông hãy thành tâm trì niệm danh hiệu vị Bồ Tát này thì có thể thoát khỏi mọi sợ hãi khủng bố.


Nói xong ngài lấy ra một quyển kinh"Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát Đà La Ni" trao cho Nhất Phong, dặn ông khi nào còn gặp cảnh khủng bố thì đọc tụng kinh này để giải trừ.


Hoà Thượng Nhất Phong tu hành tại chùa Linh Ẩn một cách chí thành, công hạnh tinh tiến, vài năm sau trở thành một vị cao tăng nổi danh. Ngài đi khắp nơi đảnh lễ các danh sơn, vì nhớ ân sâu của đức Quan Âm đã nhiều lần cứu hộ cho mình nên cứ thấy những tảng đá lạ ở danh sơn nào đều lấy để tạc tôn tượng của ngài Quan Âm lưu truyền cho hậu thế. Ngài đã bốn lần được thấy Quan Âm Bồ Tát hiển hóa, một lần thấy trong mộng thị hiện trên đầu có con rồng xanh, một lần thấy Ngài đứng trên chiếc lá sen, một lần thấy pháp tượng của Ngài giữa một luống cày và một lần thấy Quan Âm cổ xanh, vì thế những bức tượng ngài khắc nếu không là "Thanh Long Quan Âm", thì cũng "Lủng kiến Quan Âm", nếu không là "Nhất Diệp Quan Âm" hoặc "Đồng Tử bái Quan Âm" thì cũng là "Thanh Cảnh Quan Âm".


Về sau, Nhất Phong hòa thượng đi triều bái ở Nam Hải, đứng trên bờ bất ngờ nhìn thấy trong sóng to một pho tượng Quan Âm bằng lưu ly dài một xích ba thốn, toàn thân trong suốt, bảy báu trang nghiêm. Nhất Phong Hoà thượng cung kính cẩn thận vớt pho tượng lên đem về chùa Linh Ẩn ở Hàng Châu thờ phụng. Bức tượng này được đặt tên là "Lưu Ly Quan Âm", cũng vì tượng này đã bồng bềnh trên sóng nên cũng có tên "Thỗn Lai Quan Âm" (Quan Âm bồng bềnh trôi đến).


Cho đến ngày nay, chuyện Nhất Phong hòa thượng được Quan Âm Bồ Tát cứu độ, rồi xuất gia tu hành thành một vị cao tăng, suốt đời có những kỳ duyên hạnh ngộ với ngài Quan Âm Bồ Tát vẫn còn được lưu truyền.

Comments

BÀI ĐĂNG ĐƯỢC XEM NHIỀU

Truyện 166. Vợ chàng Trương

Ngày xưa, ở làng Nam-xương có cô gái tên là Vũ Thị Thiết, người đã xinh đẹp lại thùy mị nết na. Nàng lấy chồng là Trương sinh vốn là người cùng làng. Trương sinh có tính cả ghen, hay để tâm xét nét vợ, nhưng vợ chàng thường giữ gìn khuôn phép nên không có chuyện gì xảy ra. Vợ chồng hương đượm lửa nồng chưa được bao lâu thì bỗng nghe tin chốn biên thùy có giặc, chồng vâng lệnh quan phải từ giã mẹ và vợ đi lính thú. Bấy giờ vợ đang có thai. Buổi chia tay thật là bịn rịn, mẹ chúc cho con chân cứng đá mềm, chồng khuyên vợ gắng phụng dưỡng mẹ già và nuôi con khôn lớn. Sau khi chồng trẩy được mươi ngày thì Vũ Thị Thiết sinh được một đứa con trai, đặt tên là thằng Đản. Thằng bé sởn sơ mạnh khỏe, còn bà nội của nó vì nhớ con sinh ra đau ốm. Vợ chàng Trương hết lòng mời thầy chạy thuốc, nhưng bệnh của mẹ chồng mỗi ngày một nặng, chẳng bao lâu thì mất. Nhờ có bà con xóm giềng, mọi việc tống táng đều lo liệu chu toàn. Đã mấy thu qua không thấy chồng...

Thuong Luong

Thuong Luong was common name of creatures which are in people’s imagines. They are distant relatives of dragons. While dragons are worshiped as gods, the gods ruled rivers and sea and the gods can make rains, Thuong Luong is not respected as dragons that the creatures are too amorous, combative, wild, and have bad behaviors. All most of them like to harm people.

List of Vietnamese fairy tales

Vietnamese  fairy tales includes many stories as Tam and Cam; So Dua; Hundred – knot- bamboo tree... which were spread in folk. Each stories has  its own meaning. I think I can not translate exactly each word into english but I will try my best to convey its meaning to you. Hope you like them!

Two Tran princesses.

The  recent king, a king of Tran dynasty, had given birth to five princesses. Two of them were beautiful  princesses whose names Bao Nuong and Ngoc Nuong and both of them were old enough to marry. The king planned to find husbands for them but they refused. They like traveling. One day, they came and asked the king: “Dad, My king, I and my sister are people who love our country. So, we want to travel and enjoy scenery before we marry with others”. The king couldn’t prevent them and he had to agree. The princesses disguised as two men and brought with them some servants. They set off and came to places in the country. They had landed on many places which were known as beautiful places. vietnamesefairytales.blogspot.com Meanwhile, the country was fighting with enemies, a country in the north of the country, Nguyen. The enemies were cruel. Wherever they had crossed, all remaining things were ruins though those were temples or houses. The recent king had many time or...

The heir

Once  upon a time, there had a sixty-year-old man, Le. Le was wealthy but he didn’t have son he had only a daughter. Besides, his wife had died so the girl was his only relative. When his daughter grew up, she married with a man in that area. Bui was his son-in-law and he married with his daughter because of his wealth. Le also thought that he would give them his assets when he died. “Now, I am over sixty years old, too old to give birth to any child. Son or daughter is also my child so that he or she also can be the heir”, thought him. And his intent turned more certain as his daughter had a son. One day, he went to his Bui’s house to meet his grandchild he now was three years old. While he was talking with Bui’s father, the grandchild approached the father of Bui and said: “Grandpa! Com-- in eat”. “Oh my sweet grandchild”, said the father of his son-in-law, joking “What about him? Do you want to invite him?”  The child shook his head and ran toward his gran...

Cat and mouse

Ngoc  Hoang was king who ruled in heaven. As other kings, he had stores which storied all treasures belonging to him. The stores needed a person to manage them. Thu was one of gods living in heaven, clear and hard work. Therefore, Ngoc Hoang entrusted the job, taking care of the   stores, to Thu. Ngoc Hoang gave him keys and said: “Though all things in heaven are unlimited, we shouldn’t waste them. Therefore, I need a person to manage them. That is you. You don’t need to report to me daily. Twice a year are enough”, said Ngoc Hoang. “Follow your words, my king”, said Thu. Thu happily received his new position. Few years later, Thu did his duty well he set things at their places, didn’t wasted anything. Ngoc Hoang was very satisfied but nothing could keep its initial state pass time. Because things which belonged to Ngoc Hoang were very great none could count or measure, Thu thought about stealing. “Only a little could be enough for my family to live till the...

The Tale of the Hundred - knot Bamboo tree

Once upon a time, there had a boy who was poor, had no field. Therefore, he found the way to work for a landlord. He was healthy, worked hard and great in working so the landlord wanted him to work for him long time without any pay. One day, he called the boy to come. "You are honest and healthy. If you agree to work for me in three years without pay, I will let you marry with my only daughter after that." The boy agreed. He believed completely. He worked very hard, help the landlord turn richer that he could build more houses, buy more fields and cattles. Then, time passed. Three years nearly crossed, the boy always remembered his master's promise while his master, the landlord didn't want to do his promise. He in secret had found another boy for his daughter, a son of another landlord in that area. Therefore, what he need was a reason to refuse the boy. One day, he called the boy to come. "You have worked very hard for three years, waken early, slept late....

God of blacksmiths and blacksmith

Khong Lo, the god of blacksmiths, was the god who had taught people casting and also the go who governed blacksmiths. Khong Lo early realized that not all blacksmiths were good guy so he used to appear on ground and challenge blacksmiths. A street blacksmith who used to shoulder tools wander on street and helped people remold metal things. “Mold pots, mold jars, mold tray, remold metal things”, he cried to let others know he was a blacksmith. The blacksmith was great so he could mold and remold all things people needed in short time. In the time he worked he stayed in house of people who needed him to mold things. When things were molded, he got his money and set off. That was his work. One day, the blacksmith made his way to a fair. He went cross a forest and met a boy who was shouldering tools as he was. As he saw the blacksmith, the stood and bowed his head politely. “Do you see anybody go cross the direction you have passed, sir?”, said the boy. “Who do you find?”...

Tam and Cam

Once upon a time, there had a little girl named Tam. Her mother died early so her father decided to remarry on purpose the stepmother would take care of his little daughter. The stepmother gave birth to a girl, named Cam after that. Then, her father died after few years. Tam had to live with her stepmother and her sister, Cam. Since the time, she was forced to work hard, all housework, while Cam had to do nothing. One day, the stepmother gave Tam and Cam each one a corf to caught fish. She promised that who caught full her corf would receive a piece of red silk. Tam and Cam went to field together. She was hard to catch fish while Cam only wondered around till afternoon and had nothing in her coft. Cam pointed at Tam’s coft and realised it is full, thinking seconds, she said gently: “sister Tam, your head is mud, you should wash it or mother will punish you” Belive Cam, Tam went to river nearly. She left her corf on the shore,  waded into water to wash. Cam, meanwhile, stayed on t...