Skip to main content

142. Mã Đầu Quan Âm




Một hôm, Quan Âm Bồ Tát đến chân núi Cửu Hoa Sơn. Cửu Hoa Sơn ở trong địa phận của tỉnh An Huy, sở dĩ mang tên là Cửu Hoa Sơn là vì dãy núi này có tổng cộng là 9 đỉnh núi, và đỉnh nào cũng giống y như một đóa hoa sen. Chín đỉnh núi đâm vào tận mây xanh, giống như chín đóa hoa sen xanh nở rộ trong không trung. Ngài Quan Âm ngước lên nhìn thắng cảnh núi Cửu Hoa, không khỏi lấy làm ưa thích.

Quan Âm Bồ Tát hoá thành một vị tăng hành cước, thong thả bước lên núi. Mới cất bước, Ngài chợt nghe tiếng tụng kinh. Ngài đưa mắt nhìn thì thấy trong một thung lũng có một vị tăng Tây Tạng đang ngồi kết già phu, đối mặt vào tường mà tụng Bát Nhã Tâm Kinh một cách thành kính. Nhìn thấy vị tăng Tây Tạng đang tụng Bát Nhã Tâm Kinh, Quan Âm Bồ Tát cảm thấy tâm mình bị chấn động.

Câu mở đầu của Bát Nhã Tâm Kinh là "Lúc Bồ Tát Quán Tự Tại hành Bát Nhã Ba La Mật Đa một cách thâm sâu, quán chiếu thấy năm uẩn là Không, thoát khỏi tất cả mọi khổ ách". Quán Âm, Quán Âm, đó có nghĩa là quán sát âm thanh của tiếng kêu cầu mà tìm đến để cứu khổ. Vị tăng Tây Tạng này ngồi kiết già tụng Tâm Kinh trong thung lũng, chắc hẳn phải có nguyên do gì đây. Ông tụng Tâm Kinh, hiển nhiên là muốn cầu nguyện Quan Âm Bồ Tát độ cho thoát khỏi khổ ách.

Ngài Quan Âm nghĩ, hôm nay đến Cửu Hoa Sơn có lẽ là có chút nhân duyên với vị tăng Tây Tạng này chăng, ta nên đến xem lai lịch của vị tăng Tây Tạng này như thế nào?

Ngài Quan Âm bèn thi triển chút thần thông để nhìn vào quá khứ của vị tăng Tây Tạng.

Thì ra vị tăng này là hoàng tử của Tân Quốc ở Tây Tạng, tên là Cầu Na Bạt Đà. Sinh ra là đã có túc căn, từ nhỏ đã chán ghét mọi điều thế tục vinh hoa, về sau còn thẳng thừng lìa bỏ vương cung, trốn thành đi tu. Ngài rất thông minh, trí huệ sâu sắc, căn cơ giác ngộ rất cao, nghiên cứu đến chỗ thâm áo của kinh điển Phật giáo, công phu tu hành tinh chuyên, chẳng bao lâu làu thông tam tạng, thâm nhập Đại thừa.

Ngài phát đại nguyện hoằng dương Đại Thừa Phật giáo ở Trung độ (Trung Hoa), nên vừa đi vừa khất thực hướng về phía đông, vào đến nội địa Trung quốc, giảng Hoa Nghiêm kinh cho dân chúng ở Trung độ, nhưng có biết đâu, vì ngài không biết nói tiếng Trung Hoa nên khi ngài tuyên giảng Hoa Nghiêm Kinh chả ai nghe hiểu ngài muốn nói gì cả, khiến cho ngài đau lòng và xấu hổ, bèn trốn vào núi Cửu Hoa đối diện với vách tường tĩnh tọa, hy vọng được Ngài Quan Âm giúp đỡ bằng cách đến chỉ giáo cho mình. Vừa khéo đúng lúc ấy ngài Quan Âm đến Cửu Hoa Sơn và biết được chuyện của ngài. Thấy Cầu Na Bạt Đà thành tâm và cương quyết như thế, Quan Âm Bồ Tát càng thêm tán thán:

- Vị tăng Tây Tạng này thật có quyết tâm, nghị lực kiên cường, nếu ta không đến giúp đỡ ông thì ai giúp ông bây giờ!

Ngài Quan Âm bèn ẩn thân đi, quyết định đến chỉ dẫn cho vị tăng Tây Tạng.

Lúc trời vừa tối, Cầu Na Bạt Đà vẫn tiếp tục ngồi thiền nhập định như mọi ngày. Bỗng nhiên, ngài thấy trên tường đá trước mặt hiện ra một vùng ánh sáng, ánh sáng chói cả mắt. Một hồi lâu sau, trong vùng ánh sáng ấy hiện ra một đóa hoa sen, và trên hoa sen ấy hiện lên Pháp tướng của Quan Âm Bồ Tát, và ngay trên đầu Bồ Tát có một con ngựa báu xuất hiện.

Cầu Na Bạt Đà nhìn Pháp tướng của Quan Âm Bồ Tát , thấy Bồ Tát thật sự đến bên mình, trong lòng vừa mừng rỡ vừa kinh ngạc vạn phần, vội vàng chắp tay lễ bái, khấu đầu cảm tạ, đem tâm sự của mình ra bạch với Bồ Tát và cầu xin Bồ Tát khai thị, chỉ dẫn cho mình phải làm sao. Quan Âm Bồ Tát từ bi nhìn Cầu Na Bạt Đà nhưng không nói lời nào, khuôn mặt lộ vẻ tươi cười, sau Ngài nhè nhẹ ngước lên, thì thấy trên đầu Ngài con ngựa báu đang dậm bốn vó, rồi chạy trong không trung không ngừng. Pháp tướng của Quan Âm Bồ Tát lập tức biến mất.

Cầu Na Bạt Đà nhìn ngựa báu hốt nhiên đại ngộ, nghĩ rằng Bồ Tát để cho ngựa chạy không ngừng trong không trung phải chăng là để chỉ đạo cho ta một cách rõ ràng, rằng muốn thông thạo tiếng Trung hoa, phải làm như con ngựa báu tức là chạy không ngừng, chu du bốn phương và chuyên tâm học hành? Phải rồi, ta phải lập tức lìa bỏ chốn thâm sơn này, đến đại địa của Trung độ. Hôm sau Cầu Na Bạt Đà xuống núi.

Xuống núi rồi ngài đi vân du ở khắp nơi, quan sát và học tập một cách nghiêm chỉnh. Sau 9 năm bôn ba gian khổ, ngài đã thông thạo tiếng Hán, nhờ thế ngài thực hiện được nguyện ước của mình nghĩa là tuyên giảng Đại thừa Phật Pháp ở Trung độ một cách sâu rộng, mọi người đã có thể hiểu lời của ngài để tin phục và lãnh hội, Phật Pháp đại thừa cuối cùng rồi cũng được lưu hành ở Trung độ.

Sau 9 năm, Cầu Na Bạt Đà lên núi Cửu Hoa trở lại, tới chỗ mà năm nào mình đã đối diện với vách đá tĩnh tọa và được Quan Âm Bồ Tát đến chỉ đạo, xây lên một cái miếu Quan Âm nhỏ, trong đó khắc một pháp tượng của Bồ Tát Quan Âm, pháp tượng này không khác gì những pháp tượng khác nhưng chỉ có điều là ở trên đầu Ngài có một con ngựa báu, vì thế người sau gọi hình tướng này là "Quan Âm nhiều đầu" hay là "Mã Đầu Minh Vương", cũng lại tôn xưng là giáo chủ của súc sinh.

Nhưng khi pháp tượng Ngài Quan Âm được khắc xong thì có một số tín đồ địa phương cảm thấy thắc mắc, bảo rằng:

- Một bức tượng Bồ Tát Quan Âm đẹp như thế mà trên đầu lại có thêm một con ngựa, đặt súc sinh lên trên đầu Bồ Tát có phải là tỏ ra bất kính với Ngài không?

Thế là mọi người nhao nhao đến chất vấn ngài Cầu Na Bạt Đà.

Cầu Na Bạt Đà kể lại cho đại chúng nghe chuyện chín năm về trước, Ngài Quan Âm đã hiển hóa lên con ngựa báu chạy trong không trung để chỉ đạo cho mình, rồi nói tiếp:

- Chúng sinh chia làm sáu nẻo, phân làm sáu loài, tức là những con đường thiên, nhân, a tu la, súc sinh, ngạ quỷ, và địa ngục. Bồ Tát Quán Thế Âm đại từ đại bi, muốn cứu độ tất cả chúng sinh trong sáu nẻo nên mới hiện ra sáu loại Pháp tướng:

Đường địa ngục khổ nhất, nên Ngài hiện thân Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, tượng trưng cho Đại Bi tướng, truyền rằng đó là giáo chủ của địa ngục;

Loài súc sinh hùng mạnh hiểm ác, nên Ngài hiện thân Quan Âm Mã Đầu, tượng trưng cho Sư Tử Vô Uý tướng, là giáo chủ của loài súc sinh;

Đường Tu La đa nghi và hiếu chiến, Ngài hiện thân Quan Âm 11 mặt tượng trưng cho Đại Quang Phổ chiếu tướng, là giáo chủ loài A Tu La;

Đường Nhân thì có thể nói theo sự hay lý, nhìn theo sự thì họ kiêu mạn nên được gọi là Thiên Nhân, nhìn theo lý thì họ có Phật tính nên được gọi là Trượng Phu, do đó Ngài hiện thân Chuẩn Đề Quan Âm, tượng trưng cho Thiên Nhân Trượng Phu tướng, là giáo chủ của loài người;

Đường Thiên có Đại Phạm Vương, nên Ngài hiện thân Như Ý Luân Quan Âm, tượng trưng cho Đại Phạm Thâm Viễn tướng, giáo chủ loài Thiên. (*)

Ngoài sáu tướng này, Quan Âm Bồ Tát còn có thể tùy cơ ứng hóa mà biến đủ các loại hình tướng khác nhau. Quan Âm thập nhất diện có mười một mặt, ba mặt ở giữa là mặt của Bồ Tát, ba mặt bên trái hung bạo giận dữ, ba mặt bên phải giống như mặt Bồ Tát tuy từ bi hoà ái giống ba mặt trước, nhưng có răng nanh trắng chĩa lên. Mặt sau là mặt "bạo nộ đại tiếu" (**), và trên đỉnh là mặt Phật. Mỗi mặt có đội mũ báu, trên mũ báu có tượng A Di Đà Phật. Ngài Quan Âm Chuẩn Đề thì có ba mặt và mười tám cánh tay. Lại còn có Như Ý Đà Quan Âm, Lục Tý Kim Thân. Nói tới Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm lại càng khó có thể nghĩ bàn hơn nữa, vì không có gì có thể sánh bằng.

Ngài giảng một cách sinh động cụ thể, nên người nghe ở dưới toà cứ thế mà nhao nhao gật đầu đồng ý. Cầu Na Bạt Đà nói tiếp:

- Bần tăng phát nguyện từ nay trở đi sẽ đi quyên hóa để khắc tôn tượng của sáu Pháp tướng Quan Âm Bồ Tát nói trên. Nếu quý vị phát tâm giúp đỡ thì thật là công đức vô lượng.

Mọi người vội móc hầu bao giúp đỡ, và cuối cùng sáu tôn tượng Quan Âm Bồ Tát được hoàn thành, người đời gọi là "Lục Quan Âm".

Chú thích:

(*) Tuy nói là có sáu nẻo nhưng trong sách chỉ nói có 5, thiếu đường Ngạ quỷ.

(**) Bạo nộ đại tiếu: Người dịch không hiểu làm sao đã "bạo nộ" (nổi cơn tam bành) mà còn "đại tiếu" (cả cườị) được, bèn vào Google tìm chữ avalokiteshvara xem hình Bồ Tát Quan Âm 11 mặt ra làm sao, thì trong một vài hình thấy mặt thứ 10 của Ngài (A Di Đà Phật con xin sám hối) là mặt ác quỷ nhe răng nanh, phải chăng người Trung Hoa cung kính không dám nói "ác quỷ" nên dùng chữ "bạo nộ", và nhe răng trở đành "đại tiếu"? Xin các bậc cao minh vui lòng chỉ dạy!

Comments

BÀI ĐĂNG ĐƯỢC XEM NHIỀU

List of Vietnamese fairy tales

Vietnamese  fairy tales includes many stories as Tam and Cam; So Dua; Hundred – knot- bamboo tree... which were spread in folk. Each stories has  its own meaning. I think I can not translate exactly each word into english but I will try my best to convey its meaning to you. Hope you like them!

Golden hole or silver hole

Their  parent died, left them valuable assets. They were two boys. They still lived together in their parent’s house till the old brother got married. After the old brother married, he wanted to divide their parent’s assets. Therefore, he wrote an agreement paper. “This is the time we need to divide our parent’s assets.” He said, “We both need private lives”.  “How will we divide?” said the young brother. “All things our parent left were in three types:  male, female and neutral. Because you are younger then me, I will give you all things which were male I will get things which were female and neutral. If you agreed, sign you name on this paper”, said the old brother. The young innocently thought that his brother was very kind, giving him good things so he signed his name on the paper. They started separating. “This house is mine. This female buffalo is mine. This plow is mine, This jar is mine….” said the old brother. From morning to afternoon, almo...

226. Tình bạn tri âm của Bá Nha vàTử Kỳ

Cách đây đến mấy ngàn năm, vào thời Xuân thu Chiến quốc, đất nước Trung Hoa bị chia năm xẻ bảy, Tề, Ngụy, Sở,... Trong thời buổi loạn ly ấy, có những nhân tài muốn nhân cơ hội để phát huy khả năng của mình, nhưng cũng có người vì chán cảnh thế nhân đau khổ nên tìm nơi xa lánh, ẩn cư. Lúc đó, ở nước Tề, có một vị tướng quốc tên là Du Bá Nha. Ông là một người có tài tế thế ấn bang, một tay giúp Tề Vương củng cố và xây dựng đất nước Trung Hoa trở thành nước lớn lúc bấy giờ. Và ít ai biết rằng Du Bá Nha còn là một trong những kỳ nhân về đàn. Cây đàn của ông là một trong những báu vật đương thời. Điều đặc biệt ở chỗ, cây đàn của ông được làm bằng cây ngô đồng. Từ loại gỗ đặc biệt được dùng để làm nhạc cụ ấy, người ta đã công phu chọn một cây ưng ý nhất trong cả ngàn cây. Phần ngọn được bỏ đi, vì gỗ non sẽ làm tiếng đàn quá trong trẻo và non nớt. Phần gốc cũng không dùng, vì gỗ quá già, tiếng đàn sẽ bị đục, không hay. Họ chỉ giữ lại phần giữa để làm đàn cho Bá Nha. Trong những năm thán...

Truyện 166. Vợ chàng Trương

Ngày xưa, ở làng Nam-xương có cô gái tên là Vũ Thị Thiết, người đã xinh đẹp lại thùy mị nết na. Nàng lấy chồng là Trương sinh vốn là người cùng làng. Trương sinh có tính cả ghen, hay để tâm xét nét vợ, nhưng vợ chàng thường giữ gìn khuôn phép nên không có chuyện gì xảy ra. Vợ chồng hương đượm lửa nồng chưa được bao lâu thì bỗng nghe tin chốn biên thùy có giặc, chồng vâng lệnh quan phải từ giã mẹ và vợ đi lính thú. Bấy giờ vợ đang có thai. Buổi chia tay thật là bịn rịn, mẹ chúc cho con chân cứng đá mềm, chồng khuyên vợ gắng phụng dưỡng mẹ già và nuôi con khôn lớn. Sau khi chồng trẩy được mươi ngày thì Vũ Thị Thiết sinh được một đứa con trai, đặt tên là thằng Đản. Thằng bé sởn sơ mạnh khỏe, còn bà nội của nó vì nhớ con sinh ra đau ốm. Vợ chàng Trương hết lòng mời thầy chạy thuốc, nhưng bệnh của mẹ chồng mỗi ngày một nặng, chẳng bao lâu thì mất. Nhờ có bà con xóm giềng, mọi việc tống táng đều lo liệu chu toàn. Đã mấy thu qua không thấy chồng...

So dua - Coconut boy

Once upon a time, there in a village had a couple who worked as servants for a landlord. Although they were over fifty years old, they had ever not had a child. They were sad about that, but they had never given up to dream about a child. One day, it's a very hot day, when the wife was working in the field and felt very thirsty. She seeked for water, but she didn't see any but a little water in a skull which was in a hole beside an ancient tree. She had no choice but to drink it. Right the moment she drank, the feeling of cold water running from her throat to her stomach made her felt very comfortable. As a magic, she was pregnant after that short time. Then, the husband died before he got the happiness looking his child be born. After nine months and ten days, the wife gave birth a son but he didn't look like any child on the world. He had no feet, no leg, and even no body. He just had a head with full of eyes, nose, ear, hair and mouth on it. He didn't ugly but was ...

Bài 1.5: Cách sử dụng at, on, in cho thời gian, ngày, tháng, năm, mùa.

Chào các bạn! Bởi vì mình có hay dich truyện và một vài thứ linh tinh khác nên thường bắt gặp ngày, tháng năm. Thật ra khôngkhó để sử dụng đúng nhưng mỗi lần cần đến mình lại phải tra lại tra cứu. Điều đó rất mất thời gian nên hôm nay mình viết một bài liên quan đến at, on, in + thời gian để giúp bạn nào chưa biết và giúp chính mình nhớ được cách sử dụng của các giới từ at, on, in và dạng thời gian được theo sau giới từ đó.

The tale of watermelon

Once  upon a time, a young man whose name was Mai An  Tiem   was a slave. He was sold to a King named Hung   Vuong . Mai An   Tiem   was clever, he   learned   vietnamese   language very fast.   Futher , he knew so many stories, places and could do everything so good so he was liked by Hung   Vuong   very much that wherever Hung   Vuong   had come he also came with him. Three years later, he was Hung   Vuong   let to become a noble and was stayed in a building near the castle. Besides, Hung   Vuong   made his daughter become his wife.  Mai An   Tiem   now had wife, a five-year-old son, servants and assets. He seemed to lack nothing. Although he had never been arrogant people still were jealous with his his luck. vietnamesefairytales.blogspot.com One day, people who were participating in a party complimented as much as they could but he only said: “That because of ...

Yet Kieu

Once  upon a time, in Ha-bi village lived a man named Yet Kieu who worked as a fisher. One night, while he was strolling along the seaside he saw two large buffaloes fighting on the beach. He sprinted to poke them apart. Buffalos were beaten painful they ran toward to the sea then disappeared. “Those creatures aren’t normal”, he thought then he turned back where buffaloes had been fighting and picked up some fur they had left. He gazed them then suddenly swallowed them down. From that he had the strength that nobody could fight against. Especially, he could stay in the water longer than any people in the world. He spent six or seven days fishing whenever he dived in water. vietnamesefairytales.blogspot.com That moment, their enemies had an invasion. A hundred ships approached and covered seaside of Van  ninh. They caught all fishing boats and fired them. They robbed assets and took lives from people living around the beach. Warships following king of the countr...

Thuong Luong

Thuong Luong was common name of creatures which are in people’s imagines. They are distant relatives of dragons. While dragons are worshiped as gods, the gods ruled rivers and sea and the gods can make rains, Thuong Luong is not respected as dragons that the creatures are too amorous, combative, wild, and have bad behaviors. All most of them like to harm people.